Đặt Stent Động Mạch Vành Có Nguy Hiểm Không ?

Các bước đặt stent

Bệnh động mạch vành

Bệnh động mạch vành còn có tên gọi khác như: thiểu năng vành, suy mạch vành, bệnh tim thiếu máu cục bộ. Bệnh động mạch vành là tình trạng bệnh lý xảy ra trên hệ thống động mạch vành, hậu quả làm hẹp hoặc tắc lòng động mạch vành. Nguyên nhân thường do sự tích tụ các mảng xơ vữa bên trong thành động mạch vành.Vỡ hoặc nứt mảng xơ vữa sẽ dẫn đến hoạt hóa, kết tập tiểu cầu và hình thành huyết khối.

Nếu huyết khối gây tắc nghẽn hoặc nghẽn 1 phần lòng mạch, bệnh nhân có thể bị nhồi máu cơ tim hoặc đau thắc ngực không ổn định (gọi chung là hội chứng vành cấp)

Tổng quát về thủ thuật đặt stent với bệnh nhân xơ vữa động mạch

( Tổng quát về thủ thuật đặt stent với bệnh nhân xơ vữa động mạch –  nguồn ảnh : internet )

Tức ngưc khó thở là bệnh gì

Người bệnh thấy tim bị đè nén, bóp nghẹt, nặng ngực, khó thở, thường xảy ra khi gắng sức, xúc động, tức giận … Đau thường lan lên hàm, vai, tay, có thể kèm nôn ói, vã mồ hôi, hơi thở ngắn, yếu, mệt, chóng mặt …

Đau thắt ngực tăng lên về tần số hoặc xảy ra cả ngay khi nghỉ ngơi, được gọi là “không ổn định”. Nếu đau ngực với tính chất kéo dài > 15 phút chúng ta nên nghĩ đến khả năng bệnh nhận bị nhồi máu cơ tim

Dấu hiệu sớm của bệnh động mạch
Dấu hiệu sớm của bệnh động mạch

Tuy nhiên triệu trứng ở bệnh nhân Nữ, người cao tuổi, đái tháo đường, sau phẫu thuật hay bệnh nặng có thể không điển hình hoặc không có triệu chứng. Các triệu chứng không điển hình có thể gặp như khó thở, buồn nôn, nôn, khó tiêu, mệt mỏi, đau vai hoặc cánh tay, toát mồ hô, mệt mỏi, ngất hay đột quỵ….

Bóc Tách động mạch chủ là gì ?

Động mạch chủ là động mạch lớn nhất cơ thể, dẫn máu từ tim đi nuôi các cơ quan khác, Bóc tách động mạch chủ là tình trạng động mạch bị rách lớp nội mạc, làm cho máu len vào giữa lớp nội mạc và lớp áo giữa, lóc các lớp của thành động mạch chủ. Đay là bệnh lý nặng, nguy hiểm đến tính mạng, nguy cơ đột tử cao. Khi xảy ra bóc tách động mạch chủ ngực thấp, đau thường xuất hiện đột ngột, dữ dội, cảm giác đau như xé ở vùng xương ức lan ra sau lưng, tay.

Chấn Thương ngực

Đau có thể do tổn thương mô mềm thành ngực, cơ ngực, xương sườn … Đau do chấn thương thường khu trú, người bệnh có thể xác định rõ vị trí đau. Với những chấn thương ngực tương đối nặng, đặc biệt nếu kèm theo cảm giác khó thở, người bệnh cần đến bệnh viện chụp x-quang kiểm tra để xác định có hay không tổn thương như tràn khí màng phổi, tràn máu màng phổi, gẫy xương sườn…

Đau ngực do bệnh lý phổi

Tình trạng viêm nhiễm từ đường thông khí như hen suyển, viêm phế quản, viêm phổi, viêm màng phổi… Cũng gây đau ngực, đau thường liên quan đến nhịp thở, ho…

Đau thành ngực lành tính

Thường gặp ở người trẻ, khỏe mạnh, không rõ nguyên nhân và hoàn toàn lành tính, không do bất thường nào. Đau thường khu trú, thoáng qua, dưới 1 phút, có thể lặp lại nhiều lần.

Loát dạ dày

Đau thường ở bụng trên, đôi khi ở ngực. Đau có tính chất nóng rát, cồn cào, kèm ợ hơi, giảm sau khi ăn. Đau có tính chất nóng rát, cồn cào, kèm ợ hơi, giảm sau khi ăn, tăng lên sau khi hút thuốc, uống rượu, cà phê.

Trào ngực thực quản

Đau gây ra do dịch vị từ dạ dày trào ngược vào thực quản, thường có cảm giác nóng rát sau xương ức, tăng lên sau khi ăn no, hút thuốc, uống rượu, cà phê…

Tóm lại nếu người bệnh có thể tự đánh giá phần nào tình trạng đau ngực của mình để đến bệnh viện đúng lúc, sẽ giúp việc điều trị kịp thời và có hiệu quả.

Cách xử lý khi bị nhồi máu cơ tim ở nhà

Cách xử lý khi bị nhồi máu cơ tim ở nhà
( Cách xử lý khi bị nhồi máu cơ tim ở nhà – nguồn ảnh internet )

Khi người bệnh có cơn đau ngực điển hình nghĩ nhiều đến nhồi máu cơ tim ( đã mô tả như hình mô tả trên ). Chúng tôi khuyên bạn (người thân, bạn bè) hãy:

  • Gọi cấp cứu ngoại viện ngay
  • Nhờ hàng xóm, bạn bè đưa đến bệnh viện gần nhất nếu bạn không thể gọi cấp cứu được
  • Nhai hoặc nuốt aspirin, ngoại trừ bạn có tiền sử dị ứng với thuốc này hoặc có chỉ định không được dùng thuốc
  • thuốc nitroglycerin: nếu bạn nghĩ rằng mình bị cơn đau tim hay trước đây đã được kê toa thuốc này, tiếp tục dùng như hướng dẫn
  • Hồi sức tim phổi: nếu người bệnh mất ý thức hãy lập tức gọi cấp cứu. có thể bạn sẽ phải thực hiện hồi sức tim phổi. Nếu bạn chưa thực hiện phương pháp này, các bác sĩ khuyên bạn có thể bỏ qua bước hô hấp miệng – miệng duy trì nhịp thở mà chỉ thực hiện ấn ngực (khoảng 100 lần / phút)

Can thiệp đặt stent động mạch vành

Stent là gì ?

Stent mạch vành ra đời nhằm mục đích điều trị hẹp lòng động mạch chính. Stent là loại giá đỡ, được đặt vào trong lòng động mạch vành nhằm cải thiện dòng máu đến nuôi cơ tim.

Sten là gì
Các bước đặt Stent động mạch vành

Các loại stent thường được sử dụng trong can thiệp mạch vành hiện nay.

có 3 loại stent thường được sử dụng hiện nay:

  • Stent không phủ thuốc (BMS)
  • Stent phủ thuốc (DES)
  • Stent tự tiêu sinh học (BVS)

Đặt stent có nguy hiểm không ?

chụp và can thiệp xong, đặt stent động mạch vành qua da giải quyết tình trạng hẹp / tắc trong lòng động mạch vành, giúp tưới máu cơ tim tốt hơn, cho phép bệnh nhân có thể hoạt động trở lại mà không hiện cơ đau thắt ngực. Trong trường hợp nhồi máu cơ tim, cùng với việc điều trị bằng thuốc tối ưu, thủ thuật này là 1 biện pháp giúp tái tưới máu động mạch vành để hạn chế bớt vùng cơ tim tổn thương do thiếu máu, đồng thời cũng giúp phòng tắc/ hẹp tái phát, hạn chế đau thắt ngực trở lại.

NGUY CƠ VÀ BIẾN CHỨNG CÓ THỂ XẢY RA KHI ĐẶT STENT

Ngày nay, với những tiến bộ trong trang thiết bị, phương pháp hồi sức và thuốc hỗ trợ, chụp và can thiệp động mạch vành qua da đã an toàn hơn và nguy cơ của nó đã giảm đi rất nhiều. Tuy nhiên đây vẫn là 1 thủ thuật xâm lấn gây chảy máu và có thể xảy ra những nguy cơ nhất định

  • Chảy máu
  • Nhiễm trùng
  • Dị ứng với thuốc cản quang
  • Đột quị
  • Suy thận
  • Stent đã đặt có thể đột ngột bị tắc lại gây ra nhồi máu cơ tim ( 1 – 3 %) cần phải can thiệp lại hoặc làm cầu nối động mạch vành cấp cứu ( 0,5 – 2 %), thậm chí cả tử vong ( 0,1%)

Khả năng gây ra tai biến hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Theo thông kê của các nghiên cứu lớn trên thế giới, nguy cơ tai biến cần can thiệp cấp cứu hay tử vong liên quan đến kỹ thuật chụp động mạch vành là khá thấp ( 1 -2 %)

Stent được đưa vào trong lòng động mạch vành như thế nào ?

Đầu tiên người bệnh sẽ được gây tê 1 vùng nhỏ trên da để đưa ống thông ( catheter ) vào động mạch ở bẹn hay cổ tay

Sau đó 1 dây dẫn mềm, rất nhỏ được luồng qua ống thông can thiệp tới nhánh động mạch vành bị hẹp/ tắc. Dụng cụ này giống như 1 đường ray, dựa trên đó bác sĩ sẽ đưa các dụng cụ khác như bóng nong, stent trượt lên

Bóng gắn stent được luồn qua ống thông can thiệp, trượt qua dây dẫn đi đến vị trí động mạch vành bị hẹp / tắc. Bóng được bơm căng lên bằng 1 dụng cụ đặc biệt với áp lực từ 8 – 16 atm.

khi bóng đã nở hoàn toàn, ép các mảng xơ vữa vào thành mạch, lòng mạch được mở rộng thì bóng sẽ được làm xẹp, tách khỏi stent và rút ra ngoài. nếu tổn thương chỉ cần nong bằng bóng thì thủ thuật sẽ dừng lại ở đây và bác sĩ sẽ rút các dụng cụ ra khỏi cơ thể bệnh nhân.

Các bước đặt stent
Các bước đặt stent

QUY TRÌNH CAN THIỆP

CHUẨN BỊ BỆNH NHÂN

  • Làm các xét nghiệm cần thiết: điện tâm đồ, siêu âm tim, x-quang phổi, các xét nghiệm thông máu thông thường
  • Bác sĩ sẽ giải thích cho bạn hoặc thân nhân cảu bạn tại sao cần thực hiện thủ thuật này, dự kiến phương pháp tiến hành ra sao và những nguy cơ, biến chứng có thể xảy ra trong quá trình thực hiện
  • Nhịn ăn ít nhất 6 giờ trước khi can thiệp
  • Lập đường truyền tĩnh mạch

TẠI PHÒNG CHỤP MẠCH VÀNH

Bệnh nhân tại phòng chụp mạch vành
Bệnh nhân tại phòng chụp mạch vành
  • Bệnh nhân năm trên bàn có các hệ thống chiếu, chụp và màn hình được điều khiên tự động. Một số thiết bị được gắn trên người bệnh nhân: máy đo điện tim, máy đo huyết áp. Bệnh nhân có thẽ được dùng thuốc để giảm bớt lo lắng, căng thẳng nếu cần
  • Người bệnh sẽ được gây tê 1 vùng nhỏ trên da để đưa 1 ống vào động mạch ở bẹn hay cổ tay ( Thủ thuật tương đương như lấy máu làm xét nghiệm )
  • Khi chụp động mạch vành, bác sĩ sẽ thông báo cho bạn vị trí động mạch vành bị hẹp / tắc và mức độ tổn thương có cần can thiệp đặt stent hay không. Nếu tổn thương phù hợp với đặt stent, bác sĩ sẽ tiến hành đặt stent vào trong lòng động mạch vành.

Quá trình thực hiện thủ thuật thường tiến hành trong khoảng 1 giờ. Bệnh nhân vẫn luôn tỉnh táo trong suốt quá trình thực hiện thủ thuật.

CHĂM SÓC SAU THỦ THUẬT

Sau thủ thuật bệnh nhân được đưa về khu điều trị và theo dõi. Sau 6 -12 giờ làm thủ thuật, ống thông ( vùng bẹn hoặc cổ tay ) sẽ được rút ra và băng ép để cầm máu. Nếu vị trí đường vào ở vùng bẹn, bệnh nhân phải nằm bất động và duỗi thẵng chân trong 6 – 12 giờ. Nếu vị trí đường vào ở vùng cổ tay thì các cử động của bệnh nhân không bị hạn chế cả.

Bệnh nhân cần uống nhiều nước sau thủ thuật để thải nhanh thuốc cản quang

Thuốc: 2 loại thuốc quan trọng không thể thiếu được sau can thiệp đặt stent mạch vành : CLOPIDOGREL  (hoặc ticagrelor ) và aspirin. 

Sử dụng ít nhất 4 tuần đối với loại stent không phủ thuốc và 12 tháng đối với stent phủ thuốc, stent tự tiêu sinh học. Việc không sử dụng clopidogrel ( hoặc ticagrelor) và aspirin sau can thiệp có thể dẫn đến tắc stent, gây nhồi máu cơ tim, thậm chí dẫn đến tử vong. Cần hỏi ý kiến của bác sĩ tim mạch trước khi ngưng bất kỳ loại thuốc nào.

Bệnh nhân nên trở lại với các công việc hằng ngày 1 cách từ từ, duy trì những thối quen tốt như tập luyện đi bộ, tập thể dục đều đặn, ăn lạt, kiêng mỡ, không ăn các phủ tạng động vật, ăn ít trứng, sữa, tránh các căng thẵng quá mức.

Theo dõi sức khỏe thường xuyên, dùng thuốc đều đặn và tái khám đúng hẹn theo lời dặn của bác sĩ  

không nên bi quan về bệnh tật của mình. Hãy đến gặp bác sĩ để có các thông tin cần thiết, hãy liên hệ với những người có cùng phương pháp điều trị để trao đổi kinh nghiệm trong cuộc sống và phòng bệnh

Nguồn: tài liều hướng dẫn cho bệnh nhân này được Biên Soạn bởi : PGS.TS.Hồ Thượng Dũng, TS.BS.Nguyễn văn Tân, Ths.BS.Phan Văn Trực, và được lưu hành nội bộ tại bệnh viện thống nhất.